Thông tin mới về kiểm soát tăng trưởng tín dụng

Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ áp dụng cơ chế kiểm soát tăng trưởng tín dụng mới trong năm 2026, yêu cầu các tổ chức tín dụng quản lý chặt chẽ tốc độ cho vay. Theo định hướng này, dòng vốn sẽ được ưu tiên phân bổ vào hoạt động sản xuất – kinh doanh, trong khi tín dụng bất động sản vẫn nằm trong diện giám sát đặc biệt, nhằm hạn chế rủi ro và đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính.

Ngân hàng Nhà nước mới đây đã ban hành công văn gửi tới các tổ chức tín dụng, yêu cầu triển khai kiểm soát tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 theo cơ chế điều hành mới. Theo quy định này, mức dư nợ tín dụng tối đa đến ngày 31/12/2026 sẽ được xác định dựa trên một công thức điều chỉnh, trong đó hệ số nhân giảm xuống còn 2,6%, thấp hơn đáng kể so với mức 3,5% áp dụng trong năm 2025.

Cụ thể, dư nợ tín dụng tối đa được tính bằng dư nợ tại thời điểm 31/12/2025, cộng với phần tăng thêm xác định theo điểm xếp hạng của từng tổ chức tín dụng trong năm 2024. Quá trình tính toán sẽ loại trừ phần dư nợ vượt chỉ tiêu (nếu có), đồng thời không bao gồm các khoản dư nợ đã bán trong năm 2026 nhưng chưa thu được tiền tại thời điểm xác định, nhằm phản ánh sát thực hơn quy mô tín dụng thực tế.

Một số ngân hàng được ưu tiên tăng trưởng tín dụng cao hơn là các tổ chức tín dụng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc.

Theo các ước tính hiện nay, trong bối cảnh điểm xếp hạng của các ngân hàng dao động từ 1 đến 5, với phần lớn tổ chức tín dụng đang nằm ở nhóm 4–5 điểm, tăng trưởng tín dụng năm 2026 nhiều khả năng chỉ đạt khoảng 9–13%. Trong đó, đa số ngân hàng sẽ được phân bổ hạn mức tăng trưởng quanh ngưỡng 12–13%, thấp hơn so với các giai đoạn nới lỏng trước đây.

Một số ngân hàng được hưởng mức tăng trưởng tín dụng cao hơn mặt bằng chung là các tổ chức tín dụng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng yếu kém, bao gồm Vietcombank, MB, HDBank và VPBank. Việc ưu tiên này nhằm tạo dư địa vốn để hỗ trợ tiến trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, đồng thời đảm bảo ổn định tài chính trung và dài hạn.

Song song với việc điều chỉnh công thức tính hạn mức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cũng áp đặt yêu cầu kiểm soát chặt tiến độ giải ngân theo thời gian. Cụ thể, trong 3 tháng đầu năm 2026, tốc độ tăng trưởng tín dụng của mỗi tổ chức tín dụng không được vượt quá 25% chỉ tiêu cả năm, đồng thời phải bảo đảm cân đối nguồn vốn và an toàn thanh khoản.

Đáng chú ý, tín dụng bất động sản tiếp tục nằm trong diện giám sát đặc biệt. Theo chỉ đạo, tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản trong năm 2026 của từng ngân hàng không được vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của chính ngân hàng đó so với thời điểm cuối năm 2025. Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi chặt chẽ cả tốc độ tăng lẫn tỷ trọng dư nợ bất động sản trong tổng dư nợ của từng tổ chức tín dụng, nhằm hạn chế rủi ro tích tụ.

Trong trường hợp các tổ chức tín dụng không tuân thủ đầy đủ các yêu cầu kiểm soát, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ xem xét giảm trừ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm, trên cơ sở giám sát thường xuyên, mà không cần ngân hàng phải gửi văn bản đề nghị điều chỉnh.

Cơ quan quản lý cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai hoạt động cho vay phù hợp với năng lực quản trị rủi ro, tình hình thanh khoản và khả năng huy động vốn, đồng thời duy trì đầy đủ các tỷ lệ an toàn, đặc biệt là các chỉ tiêu liên quan đến thanh khoản và khả năng chi trả. Bên cạnh đó, các ngân hàng cần nâng cao chất lượng tín dụng, sử dụng vốn đúng mục đích và hạn chế phát sinh nợ xấu mới.

Về định hướng dòng vốn, Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh ưu tiên tín dụng cho lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, các ngành nghề ưu tiên và những động lực tăng trưởng chủ chốt của nền kinh tế. Ngược lại, dòng vốn vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là bất động sản, sẽ tiếp tục bị kiểm soát chặt chẽ.

Trong năm 2026, Ngân hàng Nhà nước khẳng định sẽ điều hành tăng trưởng tín dụng theo hướng chủ động và linh hoạt, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và thực tế hoạt động của từng tổ chức tín dụng. Trên cơ sở đó, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng có thể được điều chỉnh tăng hoặc giảm khi cần thiết, nhằm vừa hỗ trợ cung ứng vốn cho nền kinh tế, vừa đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và ổn định kinh tế vĩ mô.